Trang chủ Đổi mới công nghệ Chuyển đổi số Thiết bị y tế “Make in Vietnam” và sự ra đời của...

Thiết bị y tế “Make in Vietnam” và sự ra đời của Máy XQ kỹ thuật số

Đặt vấn đề

Những thập kỷ qua chúng ta cố gắng mang các sản phẩm và công nghệ y tế về Việt Nam để phân phối trên thị trường, nhưng chưa hề nghĩ tới các sản phẩm sản xuất tại Việt Nam sẽ có mặt và chiếm lĩnh thị trường trong nước và xuất khẩu. Mặc dù có khẩu hiệu “Người Việt ưu tiên dùng hàng Việt”, nhưng chưa có hiệu ứng nhiều trong lĩnh vực Y tế trong nước ngoại trừ các đồ tiêu hao hay dụng cụ y tế.

Thị trường thiết bị y tế (TBYT) Việt Nam cũng là thị trường lớn, tăng trưởng có thể nói là gấp đôi trong chu kỳ 5 năm. Năm 1995, khi hết cấm vận của Mỹ, chỉ trong lĩnh vực thiết bị xét nghiệm, từ con số 0 đến nay đã là cả 100 triệu USD/năm và con số này có thể nói sẽ còn tiếp tục tăng.

Y tế là lĩnh vực tác động đến mọi người dân, nhưng không phải ai cũng đủ khả năng chi trả cho chi phí y tế. Là đất nước 100 triệu dân, mà không hề có tiếng nói gì về thiết bị y tế trên thị trường Việt cũng như trên thế giới là một sự thua kém và thiệt thòi.

Cho nên việc chủ động sản xuất và đáp ứng về nhu cầu thiết bị y tế tự sản xuất trong nước có chất lượng trở nên cấp thiết hiện nay.

Sản xuất tích hợp – lối sản xuất mới

Có thể nói không hề chủ quan là hầu hết các sản phẩm nói chung trên thị trường và các sản phẩm TBYT nói riêng đều là các sản phẩm tích hợp từ các thành phần khác nhau, từ các nhà sản xuất khác nhau, như ô tô, điện thoại di động, TV,… và trong ngành Y là máy XQ, CT, máy thở,…

Qua đó, ta thấy vai trò của ngành công nghiệp hỗ trợ để sản xuất các thành phần máy móc là vô cùng quan trọng. Ở Việt Nam, mặc dù ngành công nghiệp hỗ trợ sản xuất chưa phát triển, nhưng trên thế giới họ đã đi rất xa, mà Trung Quốc là cả một công trường mênh mông trong lĩnh vực này.

Bằng tích hợp và các giải pháp tích hợp sẽ cho ta tạo ra những sản phẩm mang thương hiệu rất nhanh, không cần lịch sử phát triển lâu dài. Ví dụ như Công ty ô tô Trường Hải, mới đây nhất là Công ty Vinfast sản xuất ôto, xe máy, máy thở, điện thoại. Bình thường để phát triển ngành Ô tô phải mất hàng trăm năm mới có công nghệ và thương hiệu, nhưng nay bằng đầu tư tốt, bằng chiến lược kinh doanh tốt, chỉ trong vòng vài năm, thậm chí vài tháng đã có sản phẩm thương hiệu trên thị trường.

Vậy vấn đề đặt ra ở đây là gì? và cần có sự thay đổi như thế nào để có được sản phẩm mới trong nền sản xuất mới? cụ thể là:

• Những vấn đề cốt lõi của sản phẩm là trí tuệ Việt Nam, mang thương hiệu Viêt Nam có tính khả thi cao. Ví dụ các sản phẩm gắn cùng công nghệ tự động hóa, phần mềm, trí tuệ nhân tạo,….;

• Thay đổi tư duy hàng Việt Nam không nhất thiết phải bao nhiêu % của Việt Nam như vốn dĩ trong các đề tài dự án KHCN Nhà nước vẫn đòi hỏi. Vấn đề là thương hiệu và trong sản phẩm có trí tuệ (Know- How) cốt lõi của sản phẩm do người Việt chúng ta làm ra;

• Nhà máy sản xuất không nhất thiết phải đại công trường, chỉ là trung tâm tích hợp. Các nhà sản xuất như DRGEM, MINDRAY,… chỉ là các trung tâm lắp và kiểm nghiệm thôi. Chúng ta nên bỏ khái niệm đi kiểm tra điều kiện sản xuất (nhà máy sản xuất) để cấp phép như bấy lâu nay. Các công ty sản xuất họ toàn ở trên các tòa nhà cao tầng trong khu công nghiệp không nhất thiết là phải có máy tiện, máy gấp,… Các bộ phận được đặt hàng từ các công ty sản xuất khác nhau, thuộc công nghiệp hỗ trợ;

• Một vấn đề quan trọng khác là chứng chỉ chất lượng, đăng ký và quản trị chất lượng sản phẩm, giữ thương hiệu sản phẩm.

Đó là các vấn đề mới, tư duy mới trong việc nghĩ đến sản xuất trong thời đại ngày nay, thời đại số hóa mà vai trò của tích hợp để tạo ra sản phẩm là nét chính, cơ bản trong nền sản xuất hiện đại, cho dù quy mô công nghiệp hay bán công nghiệp

Máy XQ kỹ thuật số được sản xuất bởi công ty Việt Ba

Xuất phát từ thực tế thời kỳ những năm 2000 trên thế giới mới có tấm cảm biến FPD- Flat Panel Detector. Do có ít nhà sản xuất tấm cảm biến nên giá thành cao (năm 2005 giá tấm Canon 34×43 inch khoảng 100,000 USD). Máy XQ kỹ thuật số các hãng nước ngoài rất đắt. Ngoài ra, thời kỳ những năm 2005, tại các bệnh viện Việt Nam, thời gian trả kết quả chụp XQ cho bệnh nhân theo kiểu truyền thống nên lâu, điều kiện làm việc buồng tối ẩm ướt, bẩn, độc hại…. vừa không có lợi cho bệnh nhân lẫn nhân viên y tế. Việc chuyển đổi XQ thường quy với phim buồng tối sang XQ kỹ thuật số số (thường gọi là số hóa XQ) là cần thiết đáp ứng nhu cầu số hóa quản lý dữ liệu trong CNTT y tế và nhu cầu giảm tải bệnh nhân chờ đợi.

Công ty sản xuất thiết bị Y tế Việt Ba là đơn vị tiên phong trong việc nghiên cứu chế tạo và sản xuất máy XQ tích hợp từ máy phát tia X, bộ phận nhận ảnh (phim thường quy, sau này là tấm cảm biến phảng – Flat Panel Detector, bộ phận hiển thị phim,…). Bằng việc phát triển giải pháp công nghệ của mình, đến nay Công ty Việt Ba đã thành công trong việc sản xuất máy XQ thương hiệu Việt Nam trên nền khái niệm này.

Nhằm giải quyết vấn đề giá thành của tấm cảm biến đắt, Việt Ba đã sản xuất bộ phận cơ khí để chụp đa năng (Hình trên). Chỉ cần dùng một tấm cảm biến, có thể chụp được tất cả các tư thế cần chụp, giảm thiểu đầu tư. Điều này đặc biệt có ý nghĩa cho các bệnh viện tuyến thấp, đầu tư ít và khu vực y tế tư nhân.

Giai đoạn 2012 – 2014, Công ty Việt Ba Chủ trì Dự án KC 00 12-14 của Bộ Khoa học và Công nghệ. Công ty đã phát triển được phần mềm DROC – Digital Radiology Operation Console, phần mềm thu nhận và tạo ảnh XQ, điều khiển máy XQ số kết nối với hầu hết tất cả các tấm cảm biến trên thị trường của các nhà sản xuất khác nhau, tạo điều kiện cho công ty làm số hóa XQ và có thể thay thế phần mềm của các nhà cung cấp khác trên thị trường máy XQ số. Phần mềm này được giải Nhân tài Đất Việc lần thứ 2 (lần thứ nhất là sản phẩm LABLink 2008 – giải Nhì). Máy XQ kỹ thuật số mang thường hiệu VIệt Ba được nghiệm thu và có chứng chỉ sản xuất từ thời gian đó.

Máy XQ kỹ thuật số của Việt Ba là sản phẩm tích hợp với các thành phần như hình dưới:

Những đặc điểm khác biệt của máy XQ Việt Ba

• Sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng do Công ty Việt Ba sản xuất (một số hãng sản xuất và nơi sản xuất hoàn toàn khác nhau mà chủ yếu là của Trung Quốc);

• Phần mềm DROC do Việt Ba phát triển nên có thể thay thế bằng bất cứ tấm cảm biến nào trên thị trường khi có vấn đề gì xảy ra, đáp ứng nhu cầu chụp XQ là dịch vụ cơ bản trong hoạt dộng bệnh viện, không phụ thuộc vào hãng nước ngoài;

• DROC của VB có thể kết nối 2 tầm của 2 hãng khác nhau trên cùng một hệ thống, chưa thấy công ty nào làm trên thì trường, rất thuận lợi trong việc nâng cấp máy XQ hiện có;

• Máy XQ kỹ thuật số của Việt Ba điều khiển từ xa, giảm thời gian tiếp cận bệnh nhân, tránh được lây nhiễm, an toàn cho người sử dụng máy, đặt biệt sàng lọc bệnh nhân trong thời kỳ bệnh lây nhiễm hiện nay;

• Các mô hình ứng dụng đa dạng như XQ tổng thể bàn chụp cho bệnh viện có luợng bệnh nhân lớn, máy di động, máy xách tay, máy xách tay mini chụp tại nhà,…;

• Tương tích với các hệ thống RIS để nhận lệnh dịch vụ (WOrkt list);

• Phần mềm nhiều tính năng tiện ích và tích hợp với một số tính năng như nhận dạng giọng nói, AI phát hiện ung thư, COPD, COVID -19,…. Thiết kế đáp ứng được mọi nhu cầu từ bệnh viện TW, tuyến tỉnh huyện, và bệnh viện tư nhân.

Năng lực sản xuất

Việt Ba hiện có Xưởng tích hợp theo quy trình ISO 13485: Công xuất có thể đáp ứng được theo yêu cầu của thị trường từ 200 – 300 hệ thống/năm. Hệ thống hỗ trợ từ xa online 24h trong ngày, kiểm tra chất lượng theo tiêu chuẩn Việt Nam và quốc tế đáp ứng nhu cầu xuất khẩu.

Công ty có thể sản xuất OEM – Original Engineering Manufacturing cho các đơn vị trong và ngoài nước. Ngoài ra là hợp tác với các nhà cung cấp khác nhau trên thị trường (Amerphaco).

Kiến nghị

Trong nhiều năm triển khai sản xuất và cung cấp thiết bị y tế trên thị trường Việt Nam, chúng tôi cho rằng không nên nghĩ máy XQ do Việt Nam sản xuất chỉ ứng dụng cho tuyến thấp (tuyến huyện, tư nhân,…). Trên thực tế, máy XQ của Việt Nam sản xuất đã dược sử dụng ở bệnh viện tuyến TW, tỉnh, nơi có lượng bệnh nhân cao (như Bệnh viện Nội tiết TW, Bệnh viện Thủ Đức,…) nhiều năm nay.

Sản xuất trong nước hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu và máy XQ, từ cố định, di động, xách tay và các nhu cầu đặc biệt khác. Các công ty tham gia vào thị trường sản xuất thiết bị y tế cần được tạo điều kiện có thị trường trong nước ở tất cả các cấp từ bệnh viện TW, đến địa phương, có chính sách riêng cho nhập linh kiện cho sản xuất như các ngành sản xuất khác (nhập khẩu linh kiện thường 10% thuế VAT nhưng khi bán thiết bị y tế thì VAT chỉ được khai là 5%); tạo điều kiện cho xuất khẩu vì máy XQ nói riêng, cũng như một số thiết bị Việt Nam sản xuất hoàn toàn đáp ứng được tiêu chí xuất khẩu; có chính sách ưu tiên khi tham gia các dự án (Local rule) trong ngước và quốc tế.

Bộ Y tế và Chính phủ nên thay đổi tư duy của các nhà hoạch định chính sách, các nhà điều hành chính sách vĩ mô trong việc xây dựng kế hoạch sản xuất và sử dụng công nghệ do Việt Nam sản xuất và lắp ráp, đặc biết trong lĩnh vực Y tế để tăng tính thuyết phục. Dựa vào số liệu thông kê về lượng thiết bị y tế nhập về Việt Nam trong 5-10 năm qua và so sánh với các thiết bị y tế mà các bệnh viện công đã mua thì sẽ là một con số ”nhức nhối”. Thấy rằng đây là một ”trận địa” nếu không sớm thay đổi thì: Việt Nam mãi mãi là nơi tiêu thụ TBYT của nhiều nước/hãng trên thế giới, kể cả nước chậm phát triển; lãng phí quá lớn nguồn lực về trí tuệ, nhân công của người Việt; lãng phí ngân sách của Nhà nước hoặc kinh phí của nhiều người Việt (chủ đầu tư các bệnh viện tư và pphòng khám tư); lãng phí BHYT và nhiều tiêu cục trong mua sắm công. Cuối cùng, người dân Việt, đặc biệt là người nghèo luôn mãi trả phí khám chữa bệnh cao (do phải khấu hao TBYT cao).

20 năm qua là thời kỳ hoàng kim của các công ty cung cấp TBYT đa quốc gia và các đại lý của họ tại các khu vực. Tuy nhiên, có thể nói trong vòng 10 – 20 năm tới sẽ là sự lớn mạnh của các công ty trong nước nếu nắm được cơ hội và thay đổi công nghệ để chiếm lĩnh thị trường. Điều đó chỉ có thể đạt được nếu có sự thay đổi thái độ và cách điều hành cũng như quyết tâm của Chính phủ trong việc khuyến khích mua hàng trong nước và có chiến lược sản xuất TBYT trong nước bằng cách khởi động đưa KHCN cao về Việt Nam giúp họ sản xuất đáp ứng được nhu cấu trong nước và thế giới. Chúng tôi tin rằng bằng ứng dụng công nghệ ta có thể thu hẹp khoảng cách này.

Theo Nguyễn Trường Giang – Công ty TNHH Thiết bị Việt Ba.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Bài viết cùng chủ đề

Các giải pháp số của Siemens hỗ trợ ngành công nghiệp đối phó với đại dịch COVID-19

Đại dịch COVID-19 đã thực sự làm tê liệt đời sống cộng đồng, hoạt động văn hóa và gây ảnh hưởng rất lớn tới...

Cơ hội và thách thức nào cho chuyển đổi số sau Covid-19

“Chuyển đổi số quốc gia cần lấy người dân làm trung tâm. Cốt lõi của chuyển đổi số là tăng cường ứng dụng công...

Giải pháp điện toán biên toàn diện từ cái bắt tay hợp tác của các ông lớn toàn cầu

Việc triển khai cơ sở hạ tầng điện toán biên ngày càng trở nên quan trọng để gia tăng khả năng cạnh tranh cho...

Tự động hóa quản lý hệ thống mạng để tăng tốc độ chuyển đổi số

Trong vòng 12 đến 18 tháng qua, tôi đã trao đổi với hàng trăm khách hàng thuộc nhiều ngành kinh doanh và lĩnh vực...

“Công thức bí mật” cho doanh nghiệp thời CMCN 4.0: Tiểu trung tâm dữ liệu tại biên mạng

Khi làn sóng Cách mạng Công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) đang dần chiếm lĩnh mọi hoạt động sản xuất - thương mại - dịch...

Bài viết nổi bật

Cùng con trải nghiệm công nghệ tại nhà

Thế kỷ 21 là thế kỷ của công nghệ, thế kỷ của trí tuệ nhân tạo và robot. Chỉ trong 10 - 20 năm...

Đại hội đại biểu khóa III Hội Tự động hóa thành phố Hà Nội

Sáng ngày 18/10/2020, tại Hà Nội, Hội Tự động hóa thành phố Hà Nội (HAA) tổ chức Đại hội đại biểu khóa III (nhiệm kỳ...

Đẩy mạnh hoạt động đổi mới sáng tạo thông qua liên kết nhà trường và doanh nghiệp

Hoạt động đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp (ĐMST&KN) trong trường đại học là một trong những phương thức hiệu quả, không chỉ...